HỎI ĐÁP LUẬT NUÔI CON NUÔI

Tình huống 1 : Cháu H. (14 tuổi), mồ côi cả cha lẫn mẹ, hiện đang sống với bà nội. Thấy bà cũng khó khăn, cả dì ruột (hiện cư trú trong nước) và cô ruột cháu (hiện định cư ở nước ngoài) đều ngỏ ý muốn nhận cháu làm con nuôi.
Hỏi : Trong trường hợp này, việc nhận nuôi con nuôi phải có sự đồng ý của ai?
– Ai sẽ được nhận cháu H. làm con nuôi? Vì sao?
Trả lời : Theo quy định pháp luật thì:
– Vì cha mẹ đẻ của cháu H. không còn nên việc nhận nuôi con nuôi phải có sự đồng ý của cả người giám hộ (bà nội H.) và của H. vì H. đã trên 9 tuổi.
– Trong trường hợp có nhiều người cùng nhận nuôi 1 người thì phải xét theo thứ tự ưu tiên sau:
+ Cha dượng, mẹ kế, cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
+ Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước;
+ Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam;
+ Công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài;
+ Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.
Trường hợp có nhiều người cùng hàng ưu tiên xin nhận 1 người làm con nuôi thì xem xét, giải quyết cho người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con nuôi tốt nhất.
Do đó, việc cháu H. được nhận làm con nuôi của ai phụ thuộc vào sự đồng ý của bà nội và của cháu, đồng thời có xem xét giữa dì ruột và cô ruột của cháu (những người cùng hàng ưu tiên) xem ai là người có điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu tốt nhất.
(Điều 5, Khoản 1 Điều 21 Luật Nuôi con nuôi)

Tình huống 2 : Do hoàn cảnh gia đình quá khó khăn, bố mẹ cháu A. đã cho cháu làm con nuôi của bà B. khi cháu mới 4 tuổi (việc nuôi con nuôi này đã được đăng ký). Khi cháu A. lên 9 tuổi, gia đình bà B. lại đang rơi vào hoàn cảnh khó khăn. Lúc này, kinh tế gia đình bố mẹ đẻ cháu A. đã ổn định, nên anh chị muốn đón cháu về, không cho cháu làm con nuôi bà B. nữa nhưng cả cháu A. và bà B. đều không đồng ý.
Hỏi : Bố mẹ cháu A. muốn biết việc nuôi con nuôi bị chấm dứt trong trường hợp nào và cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết? Liệu việc nuôi con nuôi giữa bà B. và cháu A. có bị chấm dứt theo yêu cầu của bố mẹ đẻ cháu không?
Trả lời : – Việc nuôi con nuôi bị chấm dứt khi thuộc 1 trong những trường hợp sau:
+ Con nuôi đã thành niên và cha mẹ nuôi tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi;
+ 1 bên bị kết án về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; ngược đãi, hành hạ bên kia; hoặc con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi; hoặc cha mẹ nuôi có sự phân biệt đối xử giữa con đẻ và con nuôi.
+ Lợi dụng việc nuôi con nuôi để: Trục lợi, bóc lột sức lao động, xâm hại tình dục; bắt cóc, mua bán trẻ em; hoặc vi phạm pháp luật, phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc.
+ Lợi dụng việc cho làm con nuôi để vi phạm pháp luật về dân số; lợi dụng việc làm con nuôi của thương binh, người có công với cách mạng, người thuộc dân tộc thiểu số để hưởng chế độ, chính sách ưu đãi của Nhà nước.
+ Giả mạo giấy tờ để giải quyết việc nuôi con nuôi.
+ Ông, bà nhận cháu làm con nuôi; anh, chị, em nhận nhau làm con nuôi.
– Cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi: Tòa án nhân dân.
Như vậy, bố mẹ đẻ của cháu A. không có quyền yêu cầu chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa bà B. và cháu A. vì quan hệ nuôi con nuôi này không có căn cứ để chấm dứt theo quy định của pháp luật.
(Các Điều 10, 13, 25 Luật Nuôi con nuôi)

Tình huống 3 : Vợ chồng bà M. kết hôn đã lâu mà không có con nên có nhận D. là con của một người hàng xóm làm con nuôi và đã đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền. Tuy vợ chồng bà coi và nuôi dưỡng D. như con ruột nhưng lớn lên, D. lại lêu lổng và luôn tìm mọi cách, kể cả trộm cắp tiền, tài sản của vợ chồng bà để ăn chơi. Quá chán nản, vợ chồng bà muốn yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết để D. không còn là con của ông bà nữa.
Hỏi : Việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà M. và D. có thực hiện được không? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết? Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi được quy định ra sao?
Trả lời :- Việc chấm dứt quan hệ nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà M. và D. thực hiện được bởi thuộc trường hợp “con nuôi có hành vi phá tán tài sản của cha mẹ nuôi” theo quy định của pháp luật. Tòa án nhân dân là cơ quan có thẩm quyền giải quyết yêu cầu này.
– Hệ quả của việc chấm dứt nuôi con nuôi giữa vợ chồng bà M. và D:
+ Quyền, nghĩa vụ giữa vợ chồng bà M. và D. chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật; D. có quyền lấy lại họ, tên của mình như trước khi cho làm con nuôi;
+ Nếu D. chưa thành niên thì Tòa án sẽ quyết định giao cho cha mẹ đẻ hoặc tổ chức, cá nhân khác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
+ Nếu D. được giao cho cha mẹ đẻ thì các quyền, nghĩa vụ của cha mẹ D. đã chấm dứt trước đó được khôi phục lại (quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng).
+ Nếu D. có tài sản riêng thì được nhận lại tài sản đó; nếu D. có công lao đóng góp vào khối tài sản chung của vợ chồng bà M. thì được hưởng phần tài sản tương xứng với công lao đóng góp theo thỏa thuận với ông bà, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
(Điều 10, Khoản 4 Điều 24, Khoản 2 Điều 25, Điều 27 Luật Nuôi con nuôi)

Tình huống 4: Chị X, 37 tuổi là phụ nữ độc thân đang sống cùng cha mẹ. Sau một thời gian tìm hiểu, chị X đến Trung tâm bảo trợ xã hội huyện xin nhận cháu H, 4 tuổi là trẻ mồ côi làm con nuôi. Hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi đã được nộp đầy đủ cho UBND xã để xem xét, giải quyết. Không may hai ngày sau khi nộp hồ sơ đăng ký nuôi con nuôi, chị X bị tai nạn và chết. Cha mẹ chị X muốn tiếp tục thực hiện nguyện vọng của con gái mình nên đã đến UBND xã đề nghị UBND xã tiếp tục công nhận cháu H là con nuôi của chị X, ông bà sẽ coi cháu H là cháu ngoại và thực hiện trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc cháu thay chị X. UBND xã phải giải quyết tình huống này như thế nào?
Trả lời : Trong tình huống nói trên, UBND xã cần đình chỉ việc thụ lý giải quyết đăng ký nuôi con nuôi và phân tích, giải thích cho cha mẹ chị X biết là quan hệ nuôi con nuôi giữa chị X và cháu H không thể xác lập được vì mục đích của việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi không bảo đảm.
Theo quy định tại Điều 67 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, việc muôi con nuôi có mục đích là xác lập quan hệ cha mẹ và con giữa người nhận nuôi con nuôi và người được nhận làm con nuôi nhằm bảo đảm cho con nuôi được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội. Việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cha, mẹ và con. Theo đó, cha, mẹ nuôi có trách nhiệm trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng để con nuôi được phát triển trong một môi trường gia đình.
Trong trường hợp này, chị X – người nhận nuôi con nuôi đã qua đời. Nếu UBND xã tiếp tục đăng ký việc nuôi con nuôi của chị X là vi phạm quy định tại khoản 4 Điều 69 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, vì trong trường hợp này điều kiện thực tế bảo đảm việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi không còn.
Với nguyện vọng và tình cảm của cha mẹ chị X giành cho cháu H, UBND xã cần phân tích thêm rằng, vì quyền lợi và sự phát triển của cháu H, UBND xã chỉ có thể đăng ký nuôi con nuôi khi việc nuôi con nuôi đó bảo đảm đúng mục đích và các điều kiện mà pháp luật quy định. Việc tiếp tục thụ lý giải quyết đăng ký cho cháu H làm con nuôi của chị X và giao cháu cho cha mẹ chị nuôi, trong khi ông bà tuổi cao, sức yếu mà cháu H còn quá nhỏ sẽ không bảo đảm lợi ích và sự phát triển của cháu