HỎI ĐÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH

1. Hỏi đáp vè Luật phòng, chống bạo lực gia đình:
Câu 1: Thành viên trong gia đình gồm những ai?
Đáp: Thành viên trong gia đình bao gồm: Vợ, chồng; cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, cha dượng, mẹ kế, cha mẹ vợ, cha mẹ chồng; con đẻ, con nuôi, con riêng của vợ hoặc chồng, con dâu, con rể; anh, chị, em cùng cha mẹ, anh, chị, em cùng cha khác mẹ, anh, chị, em cùng mẹ khác cha, anh rể, em rể, chị dâu, em dâu của người cùng cha mẹ hoặc cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha; ông bà nội, ông bà ngoại; cháu nội, cháu ngoại; cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột.

Câu 2: Thế nào là bạo lực gia đình?
Đáp: Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.

Câu 3: Bạo lực gia đình bao gồm những hành vi nào?
Đáp: Những hành vi bao lực gia đình gồm:
1. Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng;
2. Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự nhân phẩm;
3. Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm trọng;
4. Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
5. Cưỡng ép quan hệ tình dục;
6. Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ;
7. Chiếm đoạt, hủy hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên gia đình;
8. Cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính;
9. Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
Các hành vi bạo lực gia đình nêu trên cũng được áp dụng đối với thành viên của gia đình vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam nữ không đăng ký kết hôn mà sống với nhau như vợ chồng.

Câu 4: Phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện theo những nguyên tắc nào?
Đáp: Phòng, chống bạo lực gia đình được thực hiện theo những nguyên tắc sau:
1. Kết hợp và thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống bạo lực gia đình, lấy phòng ngừa là chính, chú trọng công tác tuyên truyền giáo dục về gia đình, tư vấn, hòa giải phù hợp với truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
2. Hành vi bạo lực gia đình được phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời theo quy định của pháp luật.
3. Nạn nhân bạo lực gia đình được bảo vệ, giúp đỡ kịp thời phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của họ và điều kiện kinh tế – xã hội của đất nước; ưu tiên bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em, người cao tuổi, người tàn tật và phụ nữ.
4. Phát huy vai trò, trách nhiệm của cá nhân, gia đình, cộng đồng, cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình.

Câu 5: Người có hành vi bạo lực gia đình phải thực hiện những nghĩa vụ gì?
Đáp: Người có hành vi bạo lực gia đình phải thực hiện những nghĩa vụ sau:
1. Tôn trọng sự can thiệp hợp pháp của cộng đồng; chấm dứt ngay hành vi bạo lực.
2. Chấp hành quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
3. Kịp thời đưa nạn nhân đi cấp cứu, điều trị; chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình, trừ trường hợp nạn nhân từ chối.
4. Bồi thường thiệt hại cho nạn nhân bạo lực gia đình khi có yêu cầu và theo quy định của pháp luật.

2. Câu hỏi tình huống:
Tình huống 1 : Do nghi ngờ vợ ngoại tình với một đồng nghiệp ở cơ quan, trong những lần hai vợ chống cãi nhau, anh A thường nói to cho bà con xung quan nghe thấy. không chịu nổi cách hành xử của chồng, vợ anh đã bỏ về nhà bố, mẹ đẻ sống ly thân, anh A còn viết thư nặc danh gửi đến cơ quan vợ, photo, phát tán thư ở khu dân cư nơi vợ chồng anh cư trú nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của chị.
Hỏi : – Hành vi nêu trên của anh A có phải là hành vi bạo lực gia đình không?
– Sẽ bị pháp luật xử lý như thế nào ?
Đáp : – Hành vi nói xấu vợ với những người xung quanh, phát tờ rơi nói xấu bôi nhọ danh dự vợ của anh A là hành vi cố ý xúc phạm danh dự, nhân phẩm thành viên gia đình được quy định tại điểm b khoản 1 Điểu 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình ;
– Hành vi này bị xử phạt tiền từ 1.500.000đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định tại điểm a, b khoản 2. Điều 11 Nghị định 110/2009/NĐ – CP ;
– Ngoài ra, anh còn bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm là các tờ rơi có nội dung nói xấu vợ và buộc phải công khai xin lỗi vợ.

Tình huống 2 : Sau khi ly hôn, chị H được quyền nuôi 2 con nhỏ, còn anh T phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng cho các con theo quyết định của Toà án. Tuy nhiên, nhiều tháng qua anh T không thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng mặc dù chị H đã nhiều lần yêu cầu.
Hỏi : – Vậy hành vi của anh T có vi phạm pháp luật hay không? Nếu vi phạm thì bị xử lý như thế nào ?
Đáp : – Anh T không chịu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho các con theo quyết định của Toà án là hành vi vi phạm Luật Hôn nhân và Gia đình.
– Theo quy định tại Điều 14 của Nghị định 110/2009/NĐ-CP thì đây còn là hành vi bạo lực gia đình.
– Hành vi này bị xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

Tình huống 3 : Ông V là người mang nặng tư tưởng gia trưởng, luôn quản lý chặt chẽ nguồn tài chính của gia đình. Mọi chi tiêu của vợ và con cái đều do ông quyế định và hạn chế tối đa. Nhà có xe đạp nhưng con đi học cách nhà 5km ông không cho sử dụng xe đạp. Ông quản lý chặt chẽ tiền bạc, buộc vợ và các con phải phụ thuộc vào mình về tiền bạc và tài sản để khẳng định quyền gia trưởng của mình.
Hỏi : – Hành vi của ông V có vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình hay không ? Nếu vi phạm thì bị xử phạt như thế nào ?
Đáp : – Hành vi của ông V vi phạm pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình tại điểm a, b khoản 1 Điều 16 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP :
+ Không cho thành viên trong gia đình sử dụng tài sản chung vào mục đích chính đáng (không cho con dùng xe đạp đến trường)
+ Kiểm soát chặt chẽ nguồn tài chính của thành viên trong gia đình hoặc nguồn tài sản chính chung của gia đình tạo ra cho thành viên sự phụ thuộc về tài chính (quản lý chặt chẽ tiền bạc, buộc vợ và các con phải phụ thuộc vào mình).
– Theo điểm a và b khoản 1, Điều 16 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP, ông V sẽ bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000đ đến 1.000.000đ vì có 2 hành vi bạo lực về kinh tế đối với thành viên gia đình.

Tình huống 4 : Xót xa khi thấy chồng đánh con vì điểm kém trong học tập và phạt con không cho ăn cơm, chị N định chạy đi báo Công an xã nhưng đã bị chồng chặn lại. Chị hô hoán lên nhờ hàng xóm giúp đỡ. Khi Công an xã đến thì chồng chị khoá cửa lại không cho ai vào và nói rằng đây là việc riêng của gia đình anh, không ai được can thiệp vào.
Hỏi : – Hành vi nêu trên của chồng chị N có vi phạm pháp luật không và bị xử phạt như thế nào ?
Đáp : – Hành vi nêu trên của chồng chị N là vi phạm pháp luật tại điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình «Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe, tính mạng » ; vi phạm khoản 5 Điều 8 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình «Cản trở việc phát hiện, khai báo và xử lý hành vi bạo lực gia đình ».
– Chồng chị N sẽ bị xử phạt vì hành vi bạo lực gia đình với trẻ em. Đồng thời, anh cũng sẽ bị xử lý về hành vi cản trở người khác phát hiện, khai báo hành vi bạo lực gia đình và cản trở việc xử lý hành vi bạo lực gia đình theo điểm c, khoản 1, điều 20 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP.
– Mức phạt đối với hành vi cản trở của anh sẽ bị phạt từ 300.000đ đến 500.000đ

Tình huống 5 : Chị K bị chồng đánh nên đã bỏ trốn đến trạm y tế xã, một nơi đã được chính quyền địa phương thông báo là Địa chỉ tin cậy tại cộng đồng giúp những người bị bạo lực gia đình đến lánh nạn. Tuy nhiên sau ba ngày chữa trị vết thương tại đây, trạm trưởng yêu cầu chị K phải thanh toán tiền chữa trị và tiền ăn ở.
Hỏi : – Hành vi trên của ông trạm trưởng y tế có vi phạm pháp luật không ?
Trả lời :Theo quy định của Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, chi phí khám chữa bệnh cho nạn nhân bị bạo lực gia đình khi đến Địa chỉ tin cây công đồng tạm lánh sẽ do Bảo hiểm y tế chi trả còn chi phí sinh hoạt do Quỹ bảo trợ tại địa phương trả.
– Việc yêu cầu thanh toán chi phí sinh hoạt của nạn nhân ở Địa chỉ tin cậy cộng đồng nói trên là vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình tại điểm b khoản 1 Điều 23 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP
– Có thể bị phạt vi phạm hành chính với mức phạt từ 100.000đ đến 300.000đ theo quy định tại khoản 2 điều 23 Nghị định số 110/2009/NĐ-CP.